• Không có kết quả nào được tìm thấy

ĐẠT NĂNG SUẤT CAO

Trong tài liệu PGS.TS. NGUYỄN QUANG PHỔ (Trang 164-168)

Như vậy toàn bộ chương 8 của môn sinh lý thực vật được nghiên cứu đã giúp chúng ta hiểu biết được cơ bản một bức tranh cơ bản về sự sống của thực vật. Nó cho chúng ta một cơ sở để điều khiển sinh trưởng phát triển của cây trồng đạt năng suất cao, hoặc điều khiển sinh trưởng phát triển cùa thực vật theo hướng một hình dáng đẹp theo hưóng một hình mẫu nào đó trong ý tưởng của chúng ta, đặc biệt là đối với các nghệ nhân muốn tạo ra các công trình mỹ thuật sống, ở đây chúng ta chỉ dừng lại ý tổng quát cho tiêu đề đã nêu. Còn ý thứ hai xin để dành cho tài năng riêng và sự cảm hứng của từng người. Nghiên cứu cho kỹ các phần nội dung đã học đưa đến cho chúng ta một phương tiện về tri thức để mà sáng tạo.

Về điều khiển sinh trưởng phát triển của cây trổng để đạt nãng suất cao, trước hết chúng ta hãy liên hệ tới một công thức cơ bản sau (đã được nêu ở chương quang hơp)

Năng suất kinh tế = (Năng suất sinh vật học X Hệ số kinh tê)

(NSCT) ( N ? ^ )

- Năng suất kinh tế là khối lượng của các bộ phận của cây mà người trồng trọt đã xác định là mục đích kinh tế như hạt, củ, thân (mía), thân lá (rau xanh), quả...

- Năng suất sinh vật học là toàn bộ khối lượng của chất tươi (hoặc khô) mà bản thân cây đã tạo ra (rẽ, thân, lá, quả, hạt, củ...)

- Hệ số kinh tế là tỷ số: NSKT/NSSV.

Xuất phát tử công thức cơ bản trên, muốn có NSKT cao thì trước hết phải có NSSV cao, sau đó là HSKT cao. Cho nên muốn đạt NSKT cao thì cần có hai hướng tác động:

1-NÂNG CAO NSSV:

- Người ta quan niệm đây là “ nguồn” quyết định năng suất.

Chúng ta cần phải phân đấu để ruộng cây trồng đạt NSSV cao một cách hợp lý. Hợp lý là gì? Hợp lý tức là ở mức nãng suất đó sẽ cho NSKT cao nhất.

Như vậy NSSV không họfp lý là NSSV đạt trên giới hạn hợp lý và dưới NSSV hợp lý. Vì vậy cho nên yêu cầu chúng ta phải điều khiển sinh trưởng, tức là phải xúc tiến sinh trưởng hoặc hạn chế sinh trưởng để cuối cùng đến thời kỳ ruộng cây trổng bắt đầu tạo năng suất thì cũng là lúc mà chúng ta sẽ đạt tới giới hạn NSSV hợp lý.

- Biện pháp điều khiển sinh trưởng phát triển: Chúng ta sẽ sử dụng hiểu biết về vấn đề này từ 2 chương đã học, đó là: Chương V: Dinh dưỡng khoáng và đạm và chưcfng VII: Sinh trưởng và phát triển của thực vật. Trong đó chúng ta có thể sử dụng các công cụ điều khiển như:

+ Nước cung cấp hoặc hạn chế nước.

+ Phân bón: loại xúc tiến sinh trưởng hoặc xúc tiến phát triển hoặc ngược lại.

+ Biện pháp ánh sáng: trồng mật độ cây hợp lý hoặc trồng vào thời vụ nào để có chu kỳ quang thích hợp.

2- NÂNG CAO HỆ s ố KINH TẾ:

Hệ số kinh tế là tỉ lệ (phần) chất khô mà cây tự tạo ra, được phân bổ vào bộ phận kinh tế. Bởi vậy muốn nâng cao HSKT để đạt năng suất cao sau khi đã có NSSV hợp lý thì phụ thuộc vào hai quá trình quan trọng đó là:

a- Phụ thuộc vào sự ra hoa kết quả và hình thành củ.

Quá trình này quyết định việc đạt NSKT cao. Các bộ phận này người ta gọi là “vật chứa” cũng quyết định năng suất. Việc tạo ra các vật chứa này được quyết định ở quá trình phát triển.

Các yếu tố có lợi cho sự phát triển: Chúng ta hãy nghiên cứu kỹ ở chương V và chưcmg VII. Các yếu tố ảnh hưởng mạnh đến sự phát triển đó là:

+ Ánh sáng: Cường độ mạnh và chu kỳ quang thích hợp cho ra hoa.

+ Nhiệt độ: Thích hợp cho quá trình thụ phấn, thụ tinh.

+ Phân bón: Phân Kali và p ảnh hưỏng mạnh đến sự ra hoa, trao đổi chất.

+ Nước: Thiếu nước sẽ kìm hãm sinh trưởng và phát triển (tất nhiên là với ý nghĩa tương đối).

b- Q uá trình vận chuyển và tích luỹ các chất hữu cơ vềbộ phận kinh tế.

-Đây là quá trình nối liền giữa “ nguồn” và “vật chứa”. Nếu không có quá trình vận chuyển thì chất hữu cơ mà cây tạo ra do quang hợp chỉ nằm lại ở lá, bẹ và thân mà không được chuyển về hạt và củ. Cho nên mạc dù đã có nhiều qủa, nhiều hạt, nhiều củ nhưng quả có đậu hay không, quả lớn hay bé, củ to hay nhỏ là quyết định bởi nguồn vận chuyển và khả năng vận chuyển và tích luỹ có thuận lợi hay không?

-Nguồn vận chuyển; được quyết định quyết định do quá trình quang hợp của bộ lá sau khi ra hoa và thời kỳ phình to của củ. Cho nên người ta chủ trương phải kéo dài thời gian tồn tại của diện tích và chất lượng lá xanh thích hợp sau ra hoa (bấng biện pháp đủ nước hoặc bón thúc nhẹ phân đạm vào thời kỳ trước trổ hoặc ra hoa 1 tuần lễ đến 10 ngày là vì vậy).

-Biện pháp kỹ thuật xúc tiến quá trình vận chuyển:

+ Đủ nước cho cây thời kỳ sau ra hoa và làm củ.

+ Bón thúc Kali trước khi vào thời kỳ ra hoa.

+ Đủ lân đã bón ở thời kỳ sinh trưởng.

Tóm lại, chúng ta có thể mô tả mối liên hệ giữa các khâu kỹ thuật cần tác động để đạt năng suất cây trồng cao như sau:

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1- Trần kim Đồng , Nguyễn Quang Phổ , Lê Thị Hoa ,1991.

Giáo trình Sinh lý cây trồng . NXB Đại học và giáo dục Chuyên nghiệp , Hà nội, 1991 .

2- Vũ văn Vũ ,Vũ Thanh Tâm ,Hoàng Minh T ấn ,1997.

Giáo trình Sinh lý học Thực vật, NXB Giáo dục ,1997.

3- Trịnh Xuân Vũ và các tác giả khác , 1976 .

Giáo trình Sinh lý Thực vật ,NXB Nông thôn , Hà nội, 1976, 4- Huỳnh Minh Tấn , Nguyễn Quang Thạch ,Trần Văn

Phẩm, 1994

Giáo trình Sinh lý Thực v ậ t . NXB Nông nghiệp ,Hà n ộ i , 1994.

Trong tài liệu PGS.TS. NGUYỄN QUANG PHỔ (Trang 164-168)