• Không có kết quả nào được tìm thấy

ứng dụng các chất điều hoà sinh trưởng trong nông nghiệp:

Trong tài liệu PGS.TS. NGUYỄN QUANG PHỔ (Trang 123-126)

- Các ch ất diệt cỏ vô cơ:

+ Sunphat amon: Làm chuyển dịch Ph của dịch bào về phía kiềm.

+ Xianamit caxi: Có tác dụng gây co nguyên sinh.

+ Tiôxianat amôn: Làm keo tụ Protêin + Acsanatri: Kìm hãm Enzim hô hấp.

- C hất diệt cỏ hữu cơ:

+ Các dẫn xuất axit phênôxy: Làm biến đổi đặc tính của hô hấp tạo ra sản phẩm độc và vi phạm sự trao đổi aixit nuclêic trong cây.

+ Axit benzôic: Kìm hãm sự vận chuyển Auxin.

+ Dẫn xuất của axit hữu cơ aliphatic: Có tác dụng ức chế sự trao đổi phốt pho, tổng hợp ATP

- C hất d iệt cỏ chứa Nỉtơ:

+ Các amit: Kìm hãm sự hoạt động của các enzim có chứa nhóm - SH.

+ Hydrazit của axit ĩĩialêic: Cản trở sự phân chia tế bào

*Các chất ức chế vân chuyển Auxin;

+ 2-4 D và các dẫn xuất phênôxi: Vận chuyển từ trên xuống như Auxin nhưng với tốc độ lớn hofn và kìm hãm sự vận chuyển Auxin.

+ Dẫn xuất của axit beiìzôic: Cũng kìm hãm sự vận chuyển Auxin như axit tri iôt benzôic (TIBA)

*Các chất iàm châm sinh trưởng:

+ Clo Côlin Clorit( CCC): Có tác dụng ức chế sinh trưởng làm cho cây lùn, ngắn lại, có tác dụng chống đổ cho cây.

+ Muối amôn của piperidin cacbôxilat: ức chế tổng hợp giberenlin.

- Phun giberenlin, 2-4D, 2-4-5D, a. alpha- naphtyl axêtic với nồng độ thấp cho các ioài rau, đều làm tăng nâng suất rõ rệt

b/ Kích thích sự ra rễ của các cành chiết hoặc cành dâm

ứ n g dụng này dành cho các loại cây ăn quả như: Cam, quýt, nhãn, v ả i...

- Cam, chanh: Dùng 2-4 D với nồng độ khoảng 10-15 ppm - Nhãn, vải: Dùng 2-4 D với nồng độ khoảng 15- 20 ppm

Ngoài ra chúng ta có thể sử dụng một số loại chất kích thích sinh trưcmg khác cũng có hiệu quả cao như: axit alpha- indôl axêtic, a. alpha- naphtil axêtic

c/ Phun chất kích thích sinh trưởng đ ể tạo qu ả không hạt - Nguyên lý của biện pháp:

Quá trình tạo hạt trong quả là kết quả của quá trình thụ phấn và thụ tinh để tạo ra hợp tử, từ đó sẽ phát triển thành hạt. Cũng từ hợp tử sẽ tạo ra nhiều Auxin và khuếch tán ra xung quanh, kích thích sinh trưởng của bầu nhuỵ lớn lên thành quả.

Khi dùng chất kích thích sinh trưởng phun cho hoa khi chưa thụ phấn, thụ tinh, có tác dụng diệt hạt phấn( không cho quá trình thụ phấn, thụ tinh xảy ra), kết quả là không có hạt. Mặt khác chất kích thích sinh trưởng phun vào sẽ có tác dụng kích thích sinh trưởng của bầu nhụy thành quả. Như vậy bằng bằng biện pháp trên, chúng ta đã tạo ra quả không hạt. Ví dụ:

Người ta đã dùng 2-4 D, 2-4-5 T với nồng độ khoảng 5ppm phun cho cà chua vào lúc ra hoa ( chưa thụ phấn ), kết quả cho thấy cây sai quả và không hạt, tãng phẩm chất quả. Đối với các loại qủa khác như táo, nho, cam, quít cũng có thể tạo quả không hạt, nhưng cần phải nghiên cứu để sử dụng loại chất gì và nồng độ như thế nào cho phù hợp.

dỉNgăn ngừa sự rụng nụ hoa và quả:

- Nguyên nhân của hiện tượng rụng là do trong hoa thiếu auxin và tăng hàm lượng êtylen, nên quá trình tổng hợp bị ức chế, quá trình phân

giải tăng.chất dinh dưỡng và nước không vận chuyển kịp về hoa , quả. Tất cả các nguyên nhân trên sẽ dẫn đến việc tạo ra tầng rời và làm cho hoa, quả bị rụng. Để khắc phục hiện tượng trên, người ta phun các chất kích thích sinh trưởng như : 2-4 D; 2-4-5 T ; axit alpha naphtyl axêtic. Loại chất, nồng độ có hiệu quả và thời gian phun thích hợp là tuỳ thuộc vào loại đất và cây trổng khác nhau.

- Ví dụ: Táo, lê có thể sử dụng axit alpha naphtyl axêtic nồng độ 2,5 - 10 ppm; 2-4-5 T nồng độ 10-20 ppm. Cam, quít xử lý 2-4 D với nồng độ 8-10

ppm.

elR út ngắn hoặc kéo dài thòi gian nghi:

Trong trổng trọt, người ta yêu cầu có khi phải phá bỏ sự ngủ nghĩ hoạc kích thích sự nảy mầm của một số loại củ, hạt. Hoá chất thường được sử dụng như: êtylen, clohydrin, tiôurê,diclo êtylen, triclo elylen, giberenlin...phun các chất trên với nồng độ thích hợp lên cũ, chồi hoặc hạt đang nghĩ sẽ mang lại hiệu quả tốt theo yêu cầu đã định.

Ngược lại có khi trong bảo quản các loại củ ( như khoai tây, khoai lang...) thì lại cần kéo dài thời gian nghỉ của chúng. Trong trường hợp này, người ta thường sử dụng este của rượu mêtylic và axit alpha Naphtyl axêtic để xử lý có thể ngăn được sự nảy mầm của củ.

g/D ỉệt cỏ dại:

Các hợp chất được sử dụng rộng rãi như 2-4 D và các dẫn xuất của nó như 2-4-5 T, 2M, 4C, các chất ximazin, Atrazin.

Có thể dùng 2-4D để diệt các loại cỏ hai lá mầm( có thể phun vào trước hoặc sau khi cỏ mọc), dùng cho ruộng ngô rất tốt. Có thể dùng một số loại sau đây:

+ Muối natri của 2-4D: 1 .5 -2 .0 k g /h a + Muối amon của 2-4D: 1.0-1.5 kg/ha +Este của 2-4D: 0.8-1.0 kg/ha

Dùng ximazin và Atrazin để diệt cỏ gà và loại cỏ khác trong ruộng ngô.

Có thể dùng phối hợp Atrazin và ximazin ( 9 kg/ha pha trong 600 lit nước) với 2-4D, 2-4-5T để trừ tổng hợp các loại cỏ mà không ảnh hưởng đến cây ngô.

Đối với lúa: Có thể sử dụng 2-4D như sau:

+ Muối Na của 2-4D : 1.5-2.0 kg/ha.

+ Muối amôn của 2-4D : 1.0- 1.5 kg/ha.

+ Este của 2-4D : 0.8- 1.2 kg/ha

Hiện nay trên thị trường đã xuất hiện nhiều loại thuốc trừ cỏ có hiệu quả cao, đang được sử dụng rộng rãi trong sản xuất, đặc biệt đối với ruộng lúa sạ ( gieo thẳng ), mang lại hiệu quả kinh tế lớn. Cũng như chất diệt cỏ, các chế phẩm vừa có tính chất kích thích sinh trưởng vừa cung cấp nguyên tố vi lượng

cần thiết cho cây đang được sản xuất, bán và sử dụng rộng rãi cho cây ăn quả và cảy cảnh hiện nay cần được nghiên cứu và ứng dụng trong sản xuất

IV- ẢNH HUỒNG CUẢ ĐlỀU K Ệ N NGOẠI CẢNH ĐÊN SINH TRUỞNG, PHÁT TRIỂN CỦA CÂY

Trong tài liệu PGS.TS. NGUYỄN QUANG PHỔ (Trang 123-126)