• Không có kết quả nào được tìm thấy

KHÁI NIỆM:

Trong tài liệu PGS.TS. NGUYỄN QUANG PHỔ (Trang 131-135)

VI. SựVẬN ĐỘNG SINH TRUỞNG CỦA THỤC VẬT;

1/ KHÁI NIỆM:

- Biểu hiện về sự vận động của thực vật:

+ Một vài cây mọc trong hành lang cố vươn ra ngoài ánh sáng.

+ Cây hướng dương, đỉnh ngọn của nó luôn luôn hướng về phía mặt trời.

+ Lá cây họ đậu khép lại khi chiều tà.

+ Cây Irinh nữ, lá cụp lại khi ta đụng tay vào.

+ Nắp ấm của cây bắt mồi tự động đóng lại và mở ra để bắt mồi.

+ Rễ cây luôn mọc hướng sâu vào lòng đất.

Tất cả những hiện tượng đó gọi là sự vận động của thực vật.

- Động lực của sự vận động:

ở động vật, sự vận động được điều hành bởi hệ thần kinh cao cấp, còn sự vận đông cúa thực vật là kết quả của sự sinh trưởng không đổng đều ở các phía cua đinh sinh trưởng.

- Sự vận động của thực vật có thể chia làm 2 loại:

+ Vận động sinh trưởng: Là do sinh trưởng không đổng đều giữa 2 phía của đỉnh sinh trưởng nên chúng được uốn cong về một phía (không biến đổi thuận nghịch)

+ Vận động trương: Do sự biến đổi sức trương nước của tế bào mà gây ra sự vân động của mô. Khi hết nước thì nó lại quay về trạng thái cũ (biến đổi thuận nghịch). Ví dụ:sự đóng mở khí khổng chẳng hạn.

- Tuỳ theo hướng tác động của điều kiện ngoại cảnh và sự vận động của

cư quan, người ta c h ia sự v ậ n đ ộ n g của thực vật thành 2 loại:

+ Tính hướng: Do tác động của điều kiện ngoại cảnh ở một phía của đinh sinh trưởng.

+ Tính cảm : Do tác động đồng đều lừ mọi phía của điều kiện ngoại cánh (nh nhiệt độ, bóng tối...), còn cơ quan sinh trởng thì có cấu tạo lưng bụng (như lá, cánh hoa..).

2/ TÍNH H Ư Ớ N G CỦA T H ự C VẬT:

Tuỳ theo yếu tố tác động mà gây ra tính hướng, có thể chia ra mấy loại tính hướng sau:

a! Tính hướng quang:

Tính hướng quang là đặc điểm sinh trưởng của cơ quan hướng về phía ánh sáng.

Những bộ phận sinh trưởng hướng về phía ánh sáng gọi là hướng quang dương: cành, thân, lá là những bộ phận hướng quang dương.

131

Những bộ phận của cây sinh trưởng theo hướng tránh xa ánh sáng gọi là hướng quang âm. (Rễ và các bộ phận dới mặt đất hướng quang âm).

- Cơ chế của tính hướng quang, có 2 quan điểm dựa trên cơ sở ihực nghiệm để giải thích:

+ Quan điểm I : cho rằng đỉnh sỉnh trưởng của thân ở phía được chiếu sáng, vật chất được phân ly và tích điện âm, còn phía tối tích điện dương, trong lúc đó auxin tích điện âm sẽ được di chuyển phân bổ lại chuyển sang phía tối.

Phía tối nhiều auxin nên sinh trưởng mạnh hơn và kết quả là đỉnh sinh trưởng sẽ uốn cong về phía sáng (hướng quang dương).

+ Quan điểm 2:

Quan điểm này cho rằng đỉnh sinh trưởng phía được chiếu

sáng đã tạo ra chất ức chế sinh trưởng hoặc auxin bị quang oxy hoá, làm giảm hàm lượng auxin (so với phía tối)

Kết quả là ở phía tối tế bào sinh trưởng mạnh hơn và đỉnh sinh

trưởng uốn cong về phía sáng. * Hướng quang dương của đỉnh Cả 2 quan điểm đều có thống nhất chung là; Tác nhân ánh sáng đã gủy ra sự phân bố lại auxin ở 2 phía đỉnh sinh trưởng không đồng đều mà gây ra tính hướng trong sinh trưởng.

Tính hướng quang là một đậc điểm thích nghi của cây: thân, lá hướng đi tìm ánh sáng còn rễ thì hướng đi tìm nước và chất khoáng trong đất.

b! Tính hướng địa: (Tiướng đất) - Tính hướng địa là đặc tính sinh trưởng hướng về lòng đất. Có 2 loại tính hướng địa: .

+ Hướng địa dương; Rễ (bộ phận dưới mặt đất) hướng sâu vào lòng đất.

+ Hướng địa âm: Thân, lá hướng xa mặt đất để vào không khí.

- Cơ chế của tính hướng địa:

Theo Khalôtnưi và vvent:

+ Do tác động của trọng lực mà auxin được phân bổ ở phía dưới của đỉnh sinh trưởng rễ nhiều hơn, do nồng độ auxin cao, nên đã ức chế sinh trưởng của tê bào rễ ở phía dưới nên đinh rễ uốn cong về phía dưới.

Những nghiên cứu gần đây ngời ta đã đưa ra quan điểm mới là có cơ quan thụ cảm trong các tế bào mô sinh trưởng, nhạy cảm với trọng lực gọi là “Sỏi thăng bàng” có tác dụng định hướng cho quá trình trao đổi chất, có liên quan định hướng sinh trưởng.

Cũng như tính hướng quang, tính hướng địa cũng là một phản ứng thích nghi của thực vật với điều kiện môi trường để đi tìm các điều kiện sống thuận lợi.

c/ Tính hướng hoá:

Tính hướng hoá là đặc điểm sinh trưởng hướng về các yếu tố hoá học có lợi và tránh xa các yếu tố hoá học độc hại đối với cây.

+ Ví dụ: Rễ cây sinh trưởng hướng về phía có phân bón, nước (hướng hoá dương), nhưng ngược lại hướng hoá âm đối với các chất gây độc như các hợp chất xyanua, HjS, hơi clorôfoc... Sau khi thụ phấn, nhờ ống phấn sinh trưởng hướng hoá, mà kéo dài vào noãn để dẫn các tinh tử đực vào thụ tinh (Hướng hoá dương)

3/ T ÍN H CẢM CỦA T H ự C VẬT:

- Các bộ phận của cây đều có tính cảm nếu như chúng có cấu tạo lưng bụng phân biệt, tức là có 2 mặt trên dưới khác nhau (lá ,cánh hoa).

- Tính cảm được biểu hiện khi các cơ quan có cấu tạo như đã nói ở trên lại nhận được sự tác động đồng đều từ mọi phía của điều kiện ngoại cảnh.

Cư chế của tính cảm cũng chíiíh là do sự sinh trưởng không đều ở 2 măt mà gây ra sự uốn cong về một phía. Ví dụ như sự nở hoa, mở lá. Sự sinh trưởng không dều đây là do cấu tạo 2 mặt không giống nhau, dẫn tới khả năng, sinh trưởng và độ trương khác nhau.

Gồm có các loại tình cảm sau:

+ Tính cảm đém: là do sự xen kẻ ngày đêm, làm cho một số hoa lá ngày nở đêm khép lại.

+ Tính cảm quang-, là lúc ánh sáng mạnh yếu làm cho hoa nở hoặc đóng lại (hoa dạ hương, hoa quỳnh).

+ Tính cảm nhiệt: một số loài hoa chỉ nở vào một giờ nhất định trong ngày có liên quan đến nhiệt độ (hoa 10 giờ).

+ Tính cảm chấn: Khi bị chấn động làm cho lá cụp lại (cây trinh nhữ.

cây nắp ấm, hay cây bắt ruồi).

- Cơ chế của hiện tượng này là do sự thayđổi đột ngột tính thẩm 'của nguyên sinh chất độ trương nước của tế bào ở thế gối. Có thể có một cơ chế ứng động đã là thay đổi mạnh tính thấm của màng tế bào và làm cho tế bào mất nước nhanh chóng, có giả thiết cho rằng có liên quan đến quá trình điện thẩm thấu. Tuy nhiên đây là vấn đề phức tạp còn tiếp tục nghiên cứu.

VII. HỌC THUYẾT VỀ SựPHÁT TRIỂN c ủ a TH ự: VẬT:

Trong tài liệu PGS.TS. NGUYỄN QUANG PHỔ (Trang 131-135)