• Không có kết quả nào được tìm thấy

Lực GIỮ KHOÁNG CỦA ĐẤT:

Trong tài liệu PGS.TS. NGUYỄN QUANG PHỔ (Trang 97-101)

DINH DƯỠNG KHOÁNG VÀ NITƠ CỦA THựC VẬT

IV- HOẠT ĐỘNG HẤP THỤ CHAT KHOÁNG CỦA CÂY:

1/ Lực GIỮ KHOÁNG CỦA ĐẤT:

ở phần trên đã trình bày cơ chế hút khoáng của rễ, đó chỉ là mới trong dung dịch, rễ có thể hút chất khoáng một cách dễ dàng. Tuy nhiên trong đất rễ hút khoáng lại gặp rất nhiều khó khăn, bởi vì các chất khoáng bị đất giữ chặt.

Theo Ghêdrôi trong đất có 5 lực giữ chất khoáng, đó là:

+ Lực cơ giới + Lực hoá học

+ Lực vật lý + Lực giữ của sinh vật.

+ Lực hoá lý

• Lực cơ giới: Các iôn khoáng bị giữ lại trong đất ở dạng huyền phù thô trong kẽ hở của các cấu tử của đất.

• Lực vật lý: dung dịch khoáng bị hấp phụ trên bề mặt của keo đất.

• Lực hoá học: các ion khoáng kết hợp với các chất hoá học và tạo ra các phức chất khó tan mà cây không thể hút được.

• Lực hoá lý: Do sự trao đổi cation giữa dung dịch đất và phức hệ keo đất.

• Lực sinh vật: do các vi sinh vật hút khoáng và thực vật cạnh tranh trong hút khoáng.

Trong các dạng giữ khoáng kể trên, thì dạng hoá lý là lốt nhâì, vì làm cho chất khoáng không bị rửa trôi.

2/ S ự H Ú T K H O Á N G TRONG ĐẤT CỦA CÂY

Rễ hút khoáng bằng nhiều phương thức khác nhau, thể hiện khả năng thích nghi của chúng với điều kiện môi trường. Tuy nhiên nguyên tắc chung là sự hút khoáng theo nguyên tắc trao đổi, có thể phân thành 2 bước sau:

+ Tạo ra sản phẩm trao đổi; và HCO3

CO2 từ hô hấp kết hợp với nước tạo ra H2CO3 ^ + HCO3

+ Từ 2 sản phẩm trao đổi được tạo ra tế bào lông hút của rễ sẽ trao đổi với các khoáng chất bên ngoài: anion với anion, catiôn vơi cation.

- Phương Ihức trao đổi có 2 loại:

+ Trao đổi trực tiếp: Phương thức này được cây sử dụng trong trường hợp chất khoáng tan trong dung dịch, và cây có thể hút dễ dàng theo phương thức trao đổi trực tiếp (xem hình A).

+ Trao đổi tiếp xúc: Phương thức này cây sử dụng trong trường hợp châì khoáng bị giữ chặt trên bề mặt của keo đất, rễ muốn hút phải tiết ra ion và HNO3 ” vào môi trường để tiếp xúc với ion khoáng đang bị keo đất giữ chặt, có tác dụng làm yếu ái lực liên kết giữa chúng và ion khoáng dễ dàng tách ra để cây hút được dễ dàng(xem hình B )

- Phương thức hút khoáng" tich cực"

Ngoài những phương thức trao đổi đã trình bày ở trên, cây còn sử dụng một phương thức hút khoáng khác mạnh mẽ hơn, có thể gọi đó là phương thức hút khoáng “cưỡng bức”. Phương thức hút khoáng này được sủ dụng ở những cây sống trên nham thạch hoặc trên các vách núi, rễ cây có khả năng tiết ra các axit hữu cơ để hoà tan đá thành dung dịch khoáng để hút dễ dàng.

Như vậy nhờ các phương thức hút khoáng tích cực khác nhau cây có thể hút khoáng dù trong điều kiện nào. Nhưng không phải tất cả thực vật đều có khả năng như nhau mà tùy thuộc vào loại cây, môi trường sống, sự bién 'đổi tiến hóa trong quá trình thích nghi của chúng.

VI - ẢNH HưíNG CỦA NGOẠI CẢNH ĐẾN SựHÚT KHOÁNG

1. ẢNH HƯ Ở NG CỦA ĐỘ P H CỦA MÔI TRƯỜNG a. Ả nh hưởng trự c tiếp:

Trước hết pH của môi trường ảnh hường trực tiếp đến điểm đẳng điện của keo nguyên sinh chất tế bào, do đó ảnh hưởng đến sự hút khoáng của rề cây.

Nếu pH về phía chua: cây sẽ hút anion Nếu pH về phớa kiềm: cây hút cation b. Ảnh hưởng gián tiếp:

pH ảnh hưởng gián tiếp, tức là ảnh hường đến độ hòa tan, di động của các ion khoáng trong đất. Ví dụ: trong đất chua thì có nhiều nhôm di động độc đối với căy, trong đất kiềm, thì giảm p dễ tiêu vì kết tủa dưới dạng phốt phát 3 canxi Ca3(P0 4)2.

2. ẢNH H ư ở N G CỦA NỒNG độ C H ấT TAN

Nói chung ảnh hưởng của nồng độ chất tan đến hút khoáng không lớn, ảnh hưởng của thành phần chất khoáng trong đất mạnh hơn do sự cạnh tranh về mặt ái lực hóa học và tác dụng về mặt sinh học giừa chúng.

v n - c ơ SỞ KHOA HỌC CỦẢ VIỆC BÓN PHÂN HỢP LÝ:

Bón phân hợp lý cho cây, bao gồm những nội dung sau đây;

+ Xác định số lần cần bón + Xác định lượng phần cần bón + Bón loại phân gì

+ Phương pháp bón tốt nhất -Xác định lượng phăn bón:

Theo Ruôtbiski lượng phân bón cụ thể được xác định bằng công thức sau đây:

LPB = (Nhu cầu phán bón của cáy - Khả năng cung cấp chất khoáng của đất): (Hệ số sử dụng Phán bón)

1/ PH Ư Ơ N G P ÍỈÁ P XÁC Đ ỊN H NHƯ CẦU PH Â N BÓN CỦA CÂY:

Có 2 phương pháp:

- Phương pháp hoá học: Dùng phương pháp lấy mẫu cây thống kê. Trên một diện tích đồng ruộng, khoáng hoá, phân tích hàm lượng chất khoáng từ đó tính ra lượng phân bón cần thiết cho từng loại cho một đơn vị diện tích cây trổng cần bón.

- Phương pháp sinh học: Xem xét biểu hiện hình thái và sinh lý của cây

^ 2/ XÁC Đ ỊN H KHẢ NĂNG CUNG C Ấ P CHAT KHOÁNG CỦA ĐẤT:

Có thế sử dụng 2 phương pháp:

+ Phương pháp hoá học: Lấy mẫu đất để phân tích hàm lượng chất khoáng (đa lượng và vi lượng cần thiết) bằng phương pháp hoá học. Tuy nhiên, phương pháp này có nhược điểm là kết quả số liệu thu được không phản ánh đúng hàm lượng chất khoáng dễ tiêu mà cây có thé sử dụng được. Bởi vậy người la có thể sử dụng phương pháp sinh học, chính xác hơn.

+ Phương pháp sinh học;

Noibauer để nghị phương pháp: Gieo hạt trên lOOg đất để cây mọc và sinh trưởng trên đó, chờ cho đến khi cây chết vì đã hút hết chất khoáng trong đất. Phân tích toàn bộ hàm lượng chất khoáng có trong lOOg đất mà cây có thể hút được.

B/ Phương pháp bón phân hợp lý 1/ Bón lót:

Dùng cho các loại phân hữu cơ, phân hoá học khó tan.

2/ Bón th ú c :

Để xúc tiến sự ra hoa, nuôi quả, hạt...

+ Thời kỳ bón thúc: Thời kỳ khủng hoảng phân bón + Thời kỳ hiệu quả.

3! Phương pháp bón phàn qua lá:

+ Sử dụng phương pháp này đối với phân vi lượng.

+ Hoặc đối với phân đa lượng dễ tiêu khi cần thiêì.

CHƯƠNG VI

BIẾN ĐỔI, VẬN CHUỴỂ

n v à t í c h

LUỶ

c á c

Trong tài liệu PGS.TS. NGUYỄN QUANG PHỔ (Trang 97-101)