• Không có kết quả nào được tìm thấy

Nhận xét chung về tâm trạng tác giả thể hiện trong bài thơ:

Một số bài đọc thêm trong chương trình VN11-HKII

Câu 5. Nhận xét chung về tâm trạng tác giả thể hiện trong bài thơ:

Bài thơ không dùng lại nỗi thương nhớ đồng quê mà còn là thương nhớ cuộc sống, thương nhớ đồng bào, kháo khát tự do, bất bình với thực tại tù đày.

II. Tương Tư ( NB)

1.Chất quê trong Tương tư chính là thể hiện sự giản dị, gần gũi, cái hồn quê được thể hiện trong bài thơ.

- Giải thích: thế nào là chất quê?

- Chất quê được thể hiện trong bài thơ Tương tư như thế nào:

Bài thơ ngoài việc biểu lộ được một cách khá sinh động, chân thực, tinh tế những trạng thái, cung bậc phức tạp, đa dạng của trái tim chàng trai đang “tương tư”, còn gợi lên được “tình quê”, “cảnh quê”, “hồn xưa đất nước”

+ Bài thơ đã sử dụng một cách thuần thục, nhuận nhị những câu lục bát đậm đà màu sắc dân tộc với những chất liệu ngôn ngữ chân quê, dân dã: địa danh “Thôn Đoài?” “Thôn Đông”; dùng thành ngữ “chín nhớ mười mong”; dùng số từ “một” “chín” “mười”; dùng nhiều đại từ phiếm chỉ, chỉ định “ai” “ấy”.

+ Ở đây, Nguyễn Bính còn có lối tư duy gắn chặt với thiên nhiên, tạo nên những cảnh thơ đầy thiên nhiên với những cách so sánh ví von lấy thiên nhiên làm chuẩn mực “Nắng mưa … nhuộm đã thành cây lá vàng”.

+ Chất “quê mùa” còn được thể hiện ở cách bày tỏ tình cảm rất kín đáo, tế nhị của chàng trai. Những cặp trai gái thuở xưa thường ẩn mình một cách e lẹ sau những rặng trúc, mai, đào, mận để nhắn gửi nỗi niềm: “Trúc với mai, mai về trúc nhớ”./

Từ đó càng khẳng định phong cách thơ Nguyễn Bính "quê mùa như Nguyễn Bính"

2. Bình giảng bt

Nhận xét về thơ Nguyễn Bính, Tô Hoài có nói rằng: “ Chỉ có quê hương mới tạo nên được từng chữ, từng câu Nguyễn Bính. Trên chặng đường ngót nửa thế kỉ đời thơ, mỗi khi những gắn bó mồ hôi nước mắt ướt đầm lên ngây ngất, day dứt không thế yên, khi ấy xuất hiện những bài thơ tình quê tuyệt của Nguyễn Bính.” Thật vậy, trong phong trào Thơ mới, Nguyễn Bính đã tạo ra một dòng riêng. Trong khi các nhà thơ lãng mạn khác cùng thời hướng về phương Tây, chịu ảnh hưởng của nghệ thuật phương Tây thì Nguyễn Bính lại tìm về và hướng tới nghệ thuật dân tộc, chịu ảnh hưởng của thơ ca dân gian.

Nguyễn Bính là thi sĩ của đồng quê Việt , thơ ông hấp dẫn người đọc bởi lối ví von mộc mạc mà duyên dáng mang đậm hình dáng quê hương đất nước cũng như con người Việt Nam. “Tương tư” là bài thơ tiêu biểu cho phong cách thơ Nguyễn Bính.

Cũng như các nhà thơ lãng mạn, Nguyễn Bính bị “mê hoặc” bởi đề tài tình yêu. Trước Nguyễn Bính, Nguyễn Công Trứ cũng có “Tương tư”:

“Tương tư không biết cái làm sao Muốn vẽ mà chơi vẽ được nào…”

Cùng thời với Nguyễn Bính, không ai xa lạ, “Ông hoàng của thơ tình”_ Xuân Diệu cũng có bài thơ

“Tương tư chiều”. Nhưng cách biểu hiện của hai thi sĩ thật trái ngược nhau biết mấy! Mỗi bài có một nét cuốn hút và hấp dẫn riêng của nó. Xuân Diệu thì rất Tây mà Nguyễn Bính thì “chân quê”…

Mở đầu bài thơ đó là nỗi nhớ, nỗi mong của kẻ đang yêu. Cái nỗi ấy nó thật quá sôi sục, mãnh liệt dường như nó hòa vào từng cảnh, từng vật của thôn quê nơi “tôi” và “nàng” cùng chung sống:

“Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông,

Một người chín nhớ mười mong một người Gió mưa là bệnh của giời

Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng”.

Có thế nhận xét rằng, cái tôi trong thơ Nguyễn Bính nó không quá nổi bật hẳn lên mà hòa quyện với từng câu chữ, hòa vào với từng ý thơ, hòa vào không gian nơi làng quê yên ả. Nghệ thuật nhân hóa kết hợp với hoán dụ thật tài tình được Nguyễn Bính kế thừa và phát huy từ những câu ca dao dân tộc. Ngân nga đôi dòng thơ đầu tiên, ta liên tưởng ngay tới câu:

“Nhớ ai bổi hổi bồi hồi

Như đứng đống lửa như ngồi đống than.”

Cái “ngồi nhớ”, sự “chín nhớ mười mong” của dân ca giờ đã trở thành “bệnh” của “tôi” mất rồi bởi đơn giản một điều rằng “tôi yêu nàng”. Sự cụ thể hóa nỗi nhớ cùng với cấu trúc đòn gẩy sau đây thật thú vị:

MỘT NGƯỜI chín nhớ mười mong MỘT NGƯỜI

Mỗi người một đầu, như “thôn Đoài” và “thôn Đông” vậy, sự thế hiện nỗi xa cách kia quả rất hay và ý nhị. Tâm trạng tương tư của người yêu đơn phương còn ảnh hưởng tới cả trời đất:

“Tương tư là bệnh của giời

Nắng mưa là bệnh của tôi yêu nàng”

Câu thơ này của Nguyễn Bính khiến rất nhiều người nhầm tưởng đó là ca dao và sử dụng chúng rất linh hoạt, đặc biệt là các nam thanh niên. Quả là vui mừng thay cho Nguyễn Bính! Đối với văn nghệ sĩ mà nói thì không có thành công nào của nghệ thuật sánh bằng việc những đứa con tinh thần của mình được nhân dân áp dụng trong lời ăn tiếng nói hàng ngày.

Trở lại với bài thơ, “tôi” nhớ mong “nàng”, yêu đơn phương “nàng” nhưng “tôi” cũng phải trách “nàng”,

“tôi” chạnh long:

“Hai thôn chung lại một làng Cớ sao bên ấy chẳng sang bên này”

Thật tội nghiệp cho cả hai bên, bên bị trách nào biết mình đã lọt vào đôi mắt “tôi” bên thôn Đoài đây.

Nhưng cớ sao “nàng” vô tâm quá? “Tôi” và “nàng”, chúng ta ở “Hai thôn chung lại một làng” vậy mà nàng vẫn khiến tôi chờ mong vò võ bao ngày, thời gian ấy sao dằng dặc, triền miên:

“Ngày qua ngày lại qua ngày

Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng”

Tiếp tục là những âm hưởng của dân gian với lối láy chữ tựa luyến láy trong âm nhạc bình dân. Trong hai câu thơ trên, sự sáng tạo của Nguyễn Bính ở chỗ: thể hiện được sự vận động của thời gian vừa có thanh mà vừa có sắc. Ở đây, thời gian tâm lí đã khiến cho “tôi” đã phát “bệnh” mà ngày thêm trọng.

Sự trách móc, hờn dỗi rất đáng yêu kia của “tôi” chưa dừng lại ở đó. “Tôi” lại tiếp tục kiếm cớ với những lí lẽ:

“Bảo rằng cách trở đò giang,

Không sang là chẳng đường sang đã đành.

Nhưng đây cách một đầu đình, Có xa xôi mấy mà tình xa xôi…”

“Tôi” cứ kể lể dài dòng cũng chỉ vì tôi muốn ai đó tường lòng tôi rằng tôi nhớ mong ai đó thật nhiều:

“Tương tư thức mấy đêm rồi, Biết cho ai, hỏi ai người biết cho!”

Chân tình “tôi” đó, có tủi phận không khi mà “nàng” cứ vô tâm mãi, để lòng tôi héo hon trong não nề vì mong ước của “tôi” sao mà vô vọng quá:

“Bao giờ bến mới gặp đò?

Hoa khuê các, bướm giang hồ gặp nhau?”

Nguyễn Bính đã vận dụng lối nói ước lệ tượng trưng thương thấy trong ca dao đó là “bến” – “đò” và

“hoa khuê các” – “bướm giang hồ” để thể hiện một mong muốn, khao khát yêu đương mãnh liệt nhưng đã dự báo trước được kết quả. Yêu vụng dấu thầm thật là tội nghiệp biết mấy.

“Nhớ mình ra ngẩn vào ngơ

Trông mây trông nước, nay chờ mai mong”

( Tản Đà)

Kết cấu xoay vần, kết lại bài thơ, Nguyễn Bính trở lại giai điệu quen thuộc trong khổ đầu và thêm thắt và lồng khéo vào đó một vài mong ước mộc mạc, chân thật:

“Nhà em có một giàn giầu,

Nhà anh có một giàn cau liên phòng.

Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông,

Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào?”

“Nhà anh” và “nhà em”, mỗi nhà chỉ có MỘT hoặc “cau” hoặc “giầu” tức là vẫn còn cô đơn, lẻ bóng. Ý

“anh” phải chăng là muốn chung đôi xe duyên kết phận với “em”? Cấu trúc song hành này thể hiện sự mong muốn về một hạnh phúc lứa đôi son sắt, bền lâu.

Câu hỏi tu từ đã kết lại lại thơ hai mươi câu lục bát. Lời bỏ ngỏ còn đó, như nỗi “tương tư” em còn đó cùng tình yêu này rất chân thành và mộc mạc. Với tài năng và tâm huyết cùng nghệ thuật dân tộc, Nguyễn Bính đã thành công trong việc giữ lại “hương đồng gió nội” cho thơ mình và thơ Việt nói chung khi cơn gió Tây học ùa vào lúc bấy giờ. “Tương tư” đến giờ vẫn giữ được vị trí rất riêng của nó trong lòng nhiều thế hệ độc giả Việt Nam, nó chính là một phần của hồn thơ Việt, hồn quê Việt.

III. Chiều xuân

Nhắc đến nhà thơ Anh Thơ người độc giả lại nhớ về hình ảnh một nữ thi sĩ tiêu biểu của phong trào thơ Việt Nam hiện đại. Tuổi thơ êm đềm đã từng gắn liền với đồng ruộng cánh cò quê hương sớm chiều mưa hay nắng, chính điều này là nền tảng khơi nguồn cho dòng suối cảm xúc thơ trong bà với phong cách thơ bình dị mà sâu sắc qua từng câu chữ, qua bao hình ảnh của cảnh sắc nông thôn quê hương nhẹ nhàng được gợi tả một cách khéo léo.Càng ấn tượng hơn khi bà đến với thơ ca như con đường giải thoát khỏi cuộc đời tù túng , buồn tẻ và tự khẳng định giá trị người phụ nữ trong xã hội đương thời.Tập thơ

“bức tranh quê” đầu tiên ra đời chan chứa những gì mộc mạc và dung dị, đặc biệt qua bài thơ “chiều xuân”, một bức tranh về cảnh mây trời tắt nắng trong sắc xuân tươi đẹp.

Những cơn mưa xuân đặc trưng nơi miền Bắc là những cơn mưa bụi li ti rơi nhẹ tắm mát cho chồi non ngọn cỏ thêm xanh tươi, mưa xuất hiện trong dòng thơ đầu tiên rất đỗi lặng lẽ trên bến đò vắng, cảnh vật thoáng buồn và chút tĩnh lặng, se thêm cái lạnh của tâm hồn bằng sự trống trải:

“Mưa bụi êm êm trên bến vắng,

Đò biếng lười nằm mặc nước sông trôi”

Từng giọt mưa mãi rơi hững hờ và “êm êm” trước mắt nhà thơ. Từ láy gợi tả hình ảnh những giọt mưa rơi nhẹ điểm xuyết cho khung cảnh, không ồn ào vồn vã hay nặng hạt mà có chút gì như chầm chậm theo từng khoảnh khắc thời gian.Bến sông thì thưa khách đi đò chiều, vắng mênh mông, không gian rộng hơn và sự trống trải lan tỏa vào tâm hồn.Con đò nhỏ sau một ngày làm việc chở khách ngược xuôi trên dòng sông quê hương bây giờ nằm đấy và lắng vào phút giây nghỉ ngơi, mạn đò lung lay theo sóng nhỏ, vô tình trôi bềnh bồng theo nước sông. Như thế đấy ta có cảm giác nhịp mưa rơi nhịp sóng vỗ nhẹ nhịp đò trôi hòa theo nhau tạo nên bức tranh giản dị nhưng sâu lắng bao cảm xúc. Ánh mắt nhà thơ chuyển hướng và cũng bắt gặp sự yên tĩnh đang bao trùm:

“Quán tranh đứng im lìm trong vắng lặng Bên chòm xoan hoa tím rụng tơi bời”

Quán tranh được nhà thơ nhân hóa qua động từ “đứng”. Không chỉ là “đứng” mà là “đứng im lìm” và

“trong vắng lặng”, từ láy nối tiếp động từ như nhân thêm sự trống vắng không chỉ riêng bến sông gây hiệu ứng mạnh trong khổ thơ.Nơi quán tranh này là trung tâm của hoang vắng và xơ xác khi ngày sắp kết thúc. Hoa tím rụng “tơi bời” vào những phút cuối của ngày dài. Dường như không chỉ con người mệt mỏi mà vạn vật cũng rã rời, trút bỏ tàn dư cuối cùng.Thời gian thì cứ mỗi phút trôi qua mang theo sự rộn ràng hối hả của ban ngày và thay thế là chiếc áo khá buồn tẻ vì cô đơn và vắng lặng khắp nơi.Khổ thơ thứ hai hiện lên bằng những hình ảnh được thu gọn vào tầm mắt nhà thơ:

“Ngoài đường đê cỏ non tràn biếc cỏ, Đàn sáo đen sà xuống mổ vu vơ”

Đường đê rộng đôi bờ chạy dài và mơn mởn bao ngọn cỏ xanh tươi, màu sắc của câu thơ chính là màu

“biếc” của cỏ. Ngòi bút nhà thơ tạo những nét chấm phá màu sắc khá đẹp, cảnh thoáng buồn của khổ một bây giờ như được dung hòa lại bằng chính màu sắc của sự sống dù chỉ là ngọn cỏ. Đến đây không gian bớt đi màu tàn phai nhường chỗ cho màu biếc rạng rỡ, cái tĩnh lặng cũng tan dần theo tiếng vỗ cánh của đàn chim sáo đen đang sà xuống.Chúng vô tư như những đứa trẻ nghịch trên đồng qua cách miêu tả tinh tế “mổ vu vơ”. Không phải “mổ vu vơ” mà thực ra chúng đang mổ những con mồi bé nhỏ nhưng trong mắt nhà thơ hình ảnh đó khá là dễ thương và mang cảm giác thanh bình hạnh phúc vì cuộc sống tự do và khoáng đạt. Không dừng lại bấy nhiêu đó, hình ảnh tiếp theo mang lại cho độc giả cái nhìn hơi ngỡ ngàng vì những điều bình dị mà không bao nhiêu người cảm nhận được:

“Mấy cánh bướm rập rờn trôi trước gió, Những trâu bò thong thả cúi ăn mưa”

Gió lướt qua thổi mát khung cảnh và không ít lần làm nghiêng nghiêng cánh bướm, khả năng dùng từ láy khá là phong phú “rập rờn”,nhà thơ miêu tả cái cách chú bướm nhỏ muốn bay nhưng không sao vựơt qua sức ép của cơn gió nên đôi cánh kia cứ mãi chao đi chao lại theo làn gió thổi. Động từ “trôi” càng tô đậm thêm hình ảnh cánh bướm nhỏ bị cơn gió kia hững hờ mang đi. Từng đợt gió đến rồi đi và tiếp tục thổi cho cánh bướm mãi “rập rờn” chao nghiêng.Thấp hơn cánh bướm là những chú trâu bò đang từ tốn nhai cỏ non một cách “thong thả” , chậm rãi như tận hưởng hạnh phúc.Mưa vẫn còn rơi và vương hạt mưa lên ngọn cỏ cho ta cảm giác trâu bò đang thưởng thức chính “mưa”. Nhịp thơ không nhanh mà theo nhịp hoạt động của muôn vật. Đây là khoảng thời gian mọi thứ trở nên lắng đọng và chầm chậm trôi xua đi mỏi mệt dần tan biến.Đến khổ thơ cuối cùng của bài thơ, không gian mở rộng khắp phía và làm hoàn chỉnh bức tranh “chiều xuân” thơ mộng của thi sĩ Anh thơ:

“Trong đồng lúa xanh rờn và ướt lặng, Lũ cò con chốc chốc vụt bay ra, Làm giật mình một cô nàng yếm thắm Cúi cuốc cào cỏ ruộng sắp ra hoa.”

Quê hương tươi đẹp bởi những cánh đồng xanh rì ngọn lúa rung rinh xào xạc theo đợt gió thổi về, còn thấm đẫm những giọt mưa bụi lất phất. Lũ cò con lông trắng là hình ảnh gắn liền với ruộng đồng, với bầu trời thôn quê, với cơn gió mát chiều về, nghịch ngợm bay ra vội vàng hối hả làm xao động cả góc trời, chúng tung cánh tự do phiêu lãng và vô tình làm giật mình một cô gái nông thôn đang cần mẫn làm

việc bởi âm thanh bay lên của những đôi cánh. Cô gái trong câu thơ vẫn chăm chỉ làm nốt những công việc cuối cùng của ngày sắp tàn và cũng là những gì hiện lên trước mắt nhà thơ sau chót. Khung cảnh thanh bình tràn đầy sức sống, hoạt động của muôn vật đã xây dựng nên nhịp sống vui tươi nơi đây dù thời gian trôi gần hết ngày.

Nghệ thuật sử dụng từ ngữ, khéo léo dùng ngòi bút của mình vẽ nên những hình ảnh bình dị nhưng thật ấm áp và chan chứa vẻ đẹp cuộc sống, bên cạnh đó theo dòng thơ mạch cảm xúc của người đọc được dâng lên và nhờ đó ta cảm nhận sâu nhất tình cảm cảm xúc của nhà thơ, đây chính là thành công khẳng định giá trị của bài thơ .

Đôi lúc nhịp thơ chầm chậm nhẹ nhàng sâu lắng đôi lúc lại mang đến cảm giác rộn ràng và vui vẻ, cả bài thơ như bài nhạc muôn giai điệu phong phú làm rung động trái tim suy nghĩ của người đọc bài thơ. Tấm lòng yêu thơ ca và yêu những gì thân thuộc giản dị của quê hương cùng tài năng là yếu tố quan trọng góp phần tạo nên thành công của bài thơ “Chiều xuân”.

4. Củng cố: Hệ thống kiến thức vừa học, nhấn mạnh trong tâm bài học 5. Dặn dò: Tự ôn tập theo hướng dẫn. Chuẩn bị bài mới

Ngày soạn:………..

Ngày giảng:………

Tiết: 102-103

Tài liệu liên quan