• Không có kết quả nào được tìm thấy

DANH MỤC BẢNG DANH MỤC BIỂU ĐỒ

N/A
N/A
Nguyễn Gia Hào

Academic year: 2023

Chia sẻ "DANH MỤC BẢNG DANH MỤC BIỂU ĐỒ"

Copied!
50
0
0

Loading.... (view fulltext now)

Văn bản

Tên đề tài: Ứng dụng phương pháp “dạy ngôn ngữ theo nhiệm vụ” vào việc tiếp thu kỹ năng nói tiếng Trung. Thiết kế bài học theo phương pháp “dạy ngôn ngữ định hướng nhiệm vụ”. Bachman (2002) đã thảo luận về những khó khăn trong việc đánh giá tính hiệu quả của phương pháp 'dạy ngôn ngữ dựa trên nhiệm vụ'.

Và tìm hiểu việc thực hiện phương pháp “dạy ngôn ngữ theo nhiệm vụ” từ góc độ tâm lý và nhận thức. Ji Xiaoyuan và Shi Xiaomei (2004) đã thảo luận về đặc điểm của phương pháp “dạy ngôn ngữ dựa trên nhiệm vụ” trong dạy ngoại ngữ.

Tình hình nghiên cứu trong nƣớc

Theo Nguyễn Đình Bá, Đặng Thùy Liên (2010) trong bài “Dạy ngoại ngữ theo hình thức dạy học dự án” đã đưa ra 10 bước thực hiện nhiệm vụ: (1) Giảng viên giao đề tài cho các nhóm của những học sinh; (2) Học sinh chọn chủ đề và thảo luận về diễn xuất; (3) Kịch bản đã hoàn thành và được dịch sang tiếng Trung Quốc. Nghiên cứu của Ngô Hữu Hoàng và Đỗ Thị Thúy Vân (2016) về việc áp dụng phương pháp dạy học dự án vào dạy học môn Giao tiếp liên văn hóa bằng tiếng Anh tại Đại học Quốc gia Hà Nội, nghiên cứu cho thấy phương pháp này giúp người học tiếp thu liên văn hóa kỹ năng giao tiếp và tiếp thu kiến ​​thức phát triển khả năng ngôn ngữ. Lê Thị Trâm Anh (2019) trình bày một cách hệ thống những vấn đề cơ bản của phương pháp dạy học theo dự án: khái niệm, ưu điểm, cách thực hiện và thực trạng áp dụng phương pháp này vào dạy học tiếng Pháp ở trường Đại học. Đà Nẵng.

Tính cấp thiết của đề tài

Trên cơ sở những khía cạnh này, chúng tôi tiến hành tổng quan các nghiên cứu liên quan đến phương pháp dạy ngôn ngữ theo nhiệm vụ và tiến hành nghiên cứu nhằm tìm hiểu khả năng sử dụng phương pháp này trong dạy kỹ năng nói tiếng Anh.

Mục tiêu nghiên cứu

Câu hỏi nghiên cứu

CƠ SỞ LÝ LUẬN CƠ SỞ LÝ LUẬN

Khái niệm phƣơng pháp “dạy học ngôn ngữ theo nhiệm vụ”

Nguyên tắc dạy học sử dụng phƣơng pháp “dạy học ngôn ngữ theo nhiệm vụ”

  • Nguyên tắc mang tính chân thực
  • Nguyên tắc mang tính thực dụng
  • Nguyên tắc lấy sinh viên làm trung tâm dạy học
  • Nguyên tắc mang tính tƣơng tác

Các nhiệm vụ được thiết kế trong phương pháp dạy học thường gắn liền với sở thích, trải nghiệm trong cuộc sống và học tập của học sinh. Nội dung của nhiệm vụ gắn liền với những vấn đề gặp phải trong cuộc sống hàng ngày, giúp học sinh dễ dàng tiếp nhận nhiệm vụ và hoàn thành trong thời gian quy định. Phương pháp “dạy ngôn ngữ định hướng nhiệm vụ” chú trọng cả kết quả và quá trình thực hiện nhiệm vụ.

Đặc biệt chú trọng đến quá trình làm bài, học sinh sẽ vận dụng kiến ​​thức và sử dụng tiếng Trung vào bài như thế nào. Nguyên tắc của phương pháp này còn chú trọng đến kết quả của quá trình thực hiện nhiệm vụ. Vì vậy, trong quá trình trước, trong và sau khi làm bài, giáo viên luôn hướng dẫn học sinh sử dụng tiếng Trung để nêu vấn đề, thảo luận vấn đề và báo cáo kết quả làm bài.

Một bài học ngôn ngữ nói sử dụng phương pháp “dạy ngôn ngữ theo nhiệm vụ” chắc chắn phải tuân thủ nguyên tắc người học là trung tâm của bài học, là nhân tố quan trọng nhất của nhiệm vụ. Ngược lại, học sinh dễ bỏ cuộc hoặc miễn cưỡng tham gia và đương đầu với nhiệm vụ, dẫn đến hiệu quả sử dụng phương pháp không đạt mức lý tưởng. Phương pháp “dạy ngôn ngữ theo nhiệm vụ” sử dụng nguyên tắc trên với tần suất khá cao.

Tương tác giữa học sinh và giáo viên nhằm mục đích chuyển giao nhiệm vụ cho học sinh và ngược lại, học sinh hiểu rõ hơn yêu cầu nhiệm vụ của giáo viên. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, học sinh bộc lộ những trở ngại của mình. Sự sợ hãi và rắc rối đòi hỏi sự tương tác.

Mô hình phƣơng pháp “dạy học ngôn ngữ theo nhiệm vụ”

Trao đổi với giáo viên để hiểu rõ hơn yêu cầu của nhiệm vụ (nếu cần). - Trực quan hóa nhiệm vụ (nếu cần). Có thể thực hiện ở nhà hoặc tại lớp (tốt nhất là vào cuối bài học trước). Phân chia nhiệm vụ - Tập trung thảo luận, đưa ra phương pháp, phân tích vấn đề và hoàn thành nhiệm vụ.

Đưa ra nhận xét - Tóm tắt nội dung bài học - Sắp xếp bài tập về nhà hoặc nhiệm vụ cho bài học tiếp theo. Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ (cá nhân, nhóm) dưới nhiều hình thức (chơi, thuyết trình, thảo luận…).

Bảng 1: Mô hình Ellis
Bảng 1: Mô hình Ellis

Cách thức tiếp cận

Khách thể nghiên cứu

Công cụ nghiên cứu

Phƣơng pháp nghiên cứu

Khó khăn và thuận lợi

Phát triển hội nhập trên mọi lĩnh vực đòi hỏi giáo dục phải không ngừng đổi mới để phù hợp với thực tế. Trong các hội thảo học thuật trong nước và quốc tế về phương pháp giảng dạy, nhiều nhà nghiên cứu, giáo viên đã đề xuất nhiều phương pháp và áp dụng vào các môn học trong chương trình đào tạo. Mỗi phương pháp đều có điểm mạnh và điểm yếu trong ứng dụng của nó.

Dưới đây, chúng tôi xin trình bày về tính hiệu quả và hạn chế của phương pháp “dạy ngôn ngữ theo nhiệm vụ” trong học phần nói tiếng Trung được thử nghiệm trong một học kỳ và được chứng minh bằng số liệu khảo sát. Quan sát thực tế của giáo viên và học sinh. Ta phân loại nhóm 1 là nhóm số lượng nhỏ, nhóm 2 là nhóm số lượng đủ, nhóm 3 là nhóm số lượng lớn.

Tính hiệu quả khi vận dụng phƣơng pháp “dạy học ngôn ngữ theo nhiệm vụ”

Nguyên nhân khiến một số ít học sinh không tiến bộ khi sử dụng phương pháp này sẽ được giải thích ở chương “Hạn chế của phương pháp” dạy ngôn ngữ theo nhiệm vụ”. Đặc điểm lớn nhất của phương pháp “dạy ngôn ngữ dựa trên nhiệm vụ” là việc phân bổ nhiệm vụ xung quanh người học. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, học sinh được yêu cầu tương tác, hỗ trợ tìm kiếm thông tin và tham gia xây dựng, hoàn thành nhiệm vụ.

Vì vậy, khi học viên tham gia học theo phương pháp “dạy ngôn ngữ theo nhiệm vụ” trong học phần Nói, học viên được tiếp xúc và học gần như 100% bằng tiếng Trung. Hình 5: Thời lượng trung bình mỗi học sinh sử dụng tiếng Trung khi tham gia mỗi nhiệm vụ. Chỉ có một số ít 3/84 học sinh chỉ học tiếng Trung tham gia làm bài trong thời gian 3-5 phút.

Hình 8: Giáo viên phân công nhiệm vụ hợp lý cho từng thành viên/nhóm. Kết quả khảo sát cũng rất tích cực, hầu hết học sinh đều cho rằng các nhiệm vụ phát huy tính sáng tạo của học sinh (Hình 13). Hình 12: Yếu tố không gian học tập có quyết định tính hiệu quả của bạn khi tham gia nhiệm vụ giao tiếp không?

Vẫn còn tồn tại những vướng mắc trong quá trình áp dụng phương pháp “Học ngôn ngữ theo nhiệm vụ” trong học phần Nói.

Những vấn đề còn tồn tại trong quá trình vận dụng phƣơng pháp pháp “dạy học ngôn ngữ theo nhiệm vụ” trong học phần Nói

  • Khía cạnh ngƣời dạy
  • Khía cạnh ngƣời học
  • Tác động ngoại cảnh

A nhưng không phù hợp với hoàn cảnh, trình độ của học sinh B dẫn đến khó khăn trong việc hoàn thành nhiệm vụ. Một trong những bất cập chính trong dạy học nói chung và sử dụng phương pháp “dạy học theo nhiệm vụ” nói riêng là tình trạng quá tải học sinh tham gia vào bài học. Quy mô lớp học lớn có thể có tác động bất lợi đến tinh thần của giáo viên và học sinh.

Đặc biệt, số lượng học sinh đông nên hạn chế số lượng cá nhân/nhóm thực hiện bước thứ 3 (giai đoạn trình bày kết quả nhiệm vụ) trong phương pháp “dạy ngôn ngữ theo nhiệm vụ” ngay trên lớp học. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện vẫn còn những hạn chế về tinh thần tham gia học tập của sinh viên. Hình 16: Thời gian trung bình mỗi học sinh sử dụng tiếng Trung khi tham gia mỗi nhiệm vụ.

Không gian học tập có thể được hiểu là một lớp học, phòng thí nghiệm hay không gian sinh hoạt, nơi học sinh học tập và thực hiện nhiệm vụ. Vì vậy, đa số sinh viên tham gia thí nghiệm phương pháp đều cho rằng không gian học tập vô cùng quan trọng (biểu đồ 17). Biểu đồ 18 dưới đây là một số nhận xét của sinh viên về vấn đề này.

Tuy nhiên, để hoàn thành bài tập đạt chất lượng cao, sinh viên phải tham khảo nhiều tài liệu hỗ trợ khác.

Bảng 2: So sánh giữa lớp học đông ngƣời và lớp học ít ngƣời  Lớp học đông ngƣời  Lớp học ít ngƣời  Sinh  viên  ít  nhận  được  sự  quan  tâm,  hỗ
Bảng 2: So sánh giữa lớp học đông ngƣời và lớp học ít ngƣời Lớp học đông ngƣời Lớp học ít ngƣời Sinh viên ít nhận được sự quan tâm, hỗ

ĐỀ XUẤT KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

Kết luận

Kiến nghị

但是,如果有任何任务需要小组之间的公开报告,并且需要活跃于该问题的其他小组的评论。设计和安排 af opgaver 和 opgavebaseret Kinesisk undervisningsmateriale - baseret på "Oplevelse af talt kinesisk. Meningsforhandling 和 fokuseret opgavebaseret undervisning i fremmedsprog. Fremmedsprog 和 fremmedsprogsundervisning, 1,.

任务型语言教学法在英语教学中的应用任务复杂性、任务难度和语言水平对中国学生的影响任务型教学法与多媒体听说教学外语视听教学。

任务型教学法在初级对外汉语口语教学中的运用研究课程中的教育。任务类型和语言水平对英语专业口语准确性和复杂性的影响解放军外国语学院学报​​​​​​​​5, 54-58 问题教学法“行动法”与“行动法”的理论基础和模式比较。

任务型教学法在中学英语口语教学中的应用名师在线,9,。

Hình ảnh

Bảng 1: Mô hình Ellis
Bảng 2: So sánh giữa lớp học đông ngƣời và lớp học ít ngƣời  Lớp học đông ngƣời  Lớp học ít ngƣời  Sinh  viên  ít  nhận  được  sự  quan  tâm,  hỗ
1  Phụ lục 1  Bảng câu hỏi trong phiếu khảo sát điều tra

Tài liệu tham khảo

Tài liệu liên quan

Mục tiêu: Tìm tòi và mở rộng kiến thức, khái quát lại toàn bộ nội dung kiến thức đã học Phương pháp dạy học: Dạy học nhóm; dạy học nêu và giải quyết vấn đề; phương

- Kiểm tra, đánh giá kết quả nắm kiến thức của học sinh từ đó giáo viên thu tín hiệu ngược để điều chỉnh phương pháp giảng dạy phù hợp từng