• Không có kết quả nào được tìm thấy

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP

Protected

Academic year: 2023

Chia sẻ "KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP"

Copied!
51
0
0

Văn bản

TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC CHUYÊN NGÀNH HỆ THỐNG CHÍNH THỨC: KỸ THUẬT MÔI TRƯỜNG. Lớp: MT1901 Ngành nghề: Kỹ thuật môi trường Tên dự án: Nghiên cứu khả năng hấp thụ dung môi hữu cơ (benzen và toluene) của một số chất hoạt động bề mặt. Nội dung và yêu cầu cần giải quyết trong luận văn tốt nghiệp.

Nơi làm việc: Đại học Dân lập Hải Phòng Nội dung giảng dạy: Toàn văn luận văn. GIẢNG VIÊN TUYỂN DỤNG MẪU BÌNH LUẬN Họ tên giảng viên: Nguyễn Thị Kim Dung. Nội dung hướng dẫn: “Nghiên cứu khả năng hấp thụ hơi dung môi hữu cơ (benzen và toluen) của một số chất hoạt động bề mặt”.

Tinh thần và thái độ của sinh viên trong quá trình làm luận văn tốt nghiệp. Nguyễn Thị Kim Dung - người trực tiếp giao đề tài và đã nhiệt tình hướng dẫn em trong suốt quá trình thực nghiệm và làm báo cáo tốt nghiệp. Em xin cảm ơn thầy Đặng Chính Hải đã tạo điều kiện cho em học tập, tìm tòi để hoàn thành đồ án tốt nghiệp của mình.

Do thời gian và kiến ​​thức còn hạn chế nên khi thực hiện đồ án tốt nghiệp này không thể tránh khỏi những sai sót, mong được thầy cô và các bạn cho ý kiến ​​để đồ án được hoàn thành.

Khái niệm

Phân loại nhũ tương

Nhũ tương đậm đặc: Đây là hệ phân tán lỏng-lỏng chứa một lượng pha phân tán tương đối lớn, đạt 74% thể tích. Vì vậy, nhũ tương đậm đặc thường được chế tạo bằng phương pháp phân tán nên kích thước hạt tương đối lớn, khoảng 0,1 – 1µm và lớn hơn. Nhũ tương đậm đặc lắng xuống dễ dàng và lắng đọng càng dễ dàng khi sự khác biệt về mật độ giữa pha phân tán và môi trường phân tán càng lớn.

Độ ổn định của nhũ tương đậm đặc có thể được xác định vì nhiều lý do, tùy thuộc vào bản chất của quá trình nhũ hóa. Nhũ tương rất đậm đặc: điển hình là hệ thống lỏng-lỏng trong đó hàm lượng pha phân tán vượt quá 74% thể tích. Do sự sắp xếp dày đặc của các giọt nhũ tương đậm đặc nên chúng không thể lắng đọng và có đặc tính giống như gel.

Nhũ tương rất đậm đặc có thể được điều chế trong các điều kiện xác định với hàm lượng thể tích rất lớn của pha phân tán và hàm lượng thể tích rất nhỏ của môi trường phân tán. Các tính chất cơ học của nhũ tương rất đậm đặc tăng theo nồng độ của nhũ tương.

Các tác nhân tạo nhũ

  • Lauryl sunfat [3]
  • CMC [3]
  • Isoamyl alcohol [5]
  • Nước giặt [5]

Trên thực tế, tùy thuộc vào điều kiện bên ngoài, hợp chất này có thể là chất hoạt động bề mặt ở các mức độ khác nhau. Khái niệm: Chất hoạt động bề mặt được sử dụng để làm giảm sức căng bề mặt của chất lỏng bằng cách giảm sức căng bề mặt tại bề mặt tiếp xúc của hai chất lỏng. Tất cả các chất hoạt động bề mặt thông thường đều có một cấu trúc chung: Phân tử có hai phần, một phần kỵ nước và một phần ưa nước.

Phần kỵ nước thường bao gồm các chuỗi hoặc vòng hydrocarbon hoặc hỗn hợp của cả hai, phần ưa nước thường bao gồm các nhóm phân cực như nhóm carboxyl, sulface, sulfonate hoặc chất hoạt động bề mặt không ion, là các nhóm hydroxyl đơn hoặc ether. Chất hoạt động bề mặt có ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp và xây dựng. Chất làm ướt: Xử lý bề mặt sợi và các sản phẩm khác - Chất làm ướt: ngành da, sợi và bột màu.

Màng mỏng: phủ bề mặt điện hóa, chống cháy cho hàn thép - Chất làm ướt. Chất kết dính cho bề mặt kim loại khi phủ lớp phủ bảo vệ hộp đựng thực phẩm. Lauryl sulfate là chất tẩy rửa và chất hoạt động bề mặt có trong nhiều sản phẩm chăm sóc cá nhân (xà phòng, dầu gội, kem đánh răng, v.v.).

Laurylsulfate là chất hoạt động bề mặt được sử dụng làm chất tẩy rửa và chất hoạt động bề mặt được tìm thấy trong nhiều sản phẩm chăm sóc cá nhân. Nó được sử dụng làm chất chống bay hơi trong dung dịch cloroform: thuốc thử rượu isomyl. Rượu isoamyl được sử dụng trong chiết xuất phenol-chloroform trộn với chloroform để ức chế hoạt động của RNase và khả năng hòa tan tự do của RNA với các chất poly-adenine.

Do sức căng bề mặt cao của nước nên nước không thể tách hoặc hòa tan vết bẩn. Khi chất tẩy được hòa tan trong nước, dung dịch chất tẩy đó có sức căng bề mặt thấp hơn nước. Nó có thể làm giảm sức căng bề mặt của chất bẩn, vì chất bẩn được chia thành các phần nhỏ và phân tán vào nước rồi bị cuốn trôi.

Hình 1.1: Cấu trúc không gian của Lauryl sunfat
Hình 1.1: Cấu trúc không gian của Lauryl sunfat

Dung môi hữu cơ

Toluen [1]

Toluene được sử dụng làm chất lót cho các loại dầu mỡ như cao su, vecni, sơn và cao su trong ngành cao su. Theo WHO, toluene được sản xuất từ ​​dầu thô nên người lao động trong ngành hóa dầu có thể bị phơi nhiễm. Tiếp xúc ngắn hạn với nồng độ toluene cao có thể gây đau đầu, buồn nôn, nôn, chóng mặt, hôn mê, khó thở, mạch yếu và suy giảm hệ thần kinh như mệt mỏi và lú lẫn.

Tiếp xúc với toluene cũng có thể gây kích ứng mắt, đường hô hấp và gây ho. Tiếp xúc nhiều có thể gây suy giảm ý thức; rối loạn nhịp tim; Tử vong có thể do ngừng hô hấp. Nuốt phải toluene có thể gây đau đầu, buồn nôn, nôn, viêm dạ dày và hôn mê.

Đặc biệt khi nuốt phải toluene, phổi còn có thể hít phải hơi toluene, gây viêm phổi do hóa chất. Tiếp xúc lâu dài hoặc lặp đi lặp lại với toluene có thể gây ra những tác động sau: Trước hết: tạp chất benzen trong toluene có thể gây rối loạn huyết học vì benzen khiến vấn đề trở nên phức tạp hơn.

Nó có thể gây tác động lên hệ thần kinh trung ương và tim, gây rối loạn nhịp tim, đau đầu, mệt mỏi, suy nhược... với nồng độ 200 ppm, theo Parmeggiani và Sassi). Benzen là dung môi và cũng là nguyên liệu quan trọng trong sản xuất công nghiệp, nhưng do độc tính của nó nằm trong số những chất độc nghề nghiệp hàng đầu nên người ta phải tìm chất khác để thay thế. Nhiều nước có luật cấm sử dụng benzen và quy định tỷ lệ benzen trong dung môi nên tình trạng ngộ độc nghề nghiệp đã giảm nhưng mỗi năm vẫn có hàng trăm trường hợp ngộ độc benzen.

Nó được sử dụng trong nhiều chất để tổng hợp các monome trong sản xuất polyme cho nhựa, cao su và sợi tơ tằm (như polystyrene, cao su bunastyrene, lụa kapron). Toluene được dùng để sản xuất thuốc nổ TNT (trinitrotoluene) + Benzen, toluene và xylene cũng được sử dụng rộng rãi làm dung môi. Trong nhiễm độc gan mãn tính, nó tác động lên tủy xương do chuyển đổi một phần thành các hợp chất phenolic.

Bảng 1.1: Nồng độ nhiễm độc của benzen
Bảng 1.1: Nồng độ nhiễm độc của benzen

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Thí nghiệm Nghiên cứu khả năng hấp thụ Toluen và Benzen của các chất hoạt động bề mặt

Cân 10 g lauric sunfat pha trong nước cất đã đun nóng và khuấy đều cho đến khi dung dịch bão hòa. Dùng pipet lấy 3 g dung dịch laurin sunfat cho vào bình định mức pha với nước cất thành 100 ml. Nghiên cứu khả năng hấp thụ toluene và benzen của chất hoạt động bề mặt CMC....

Dùng pipet lấy 3 g dung dịch CMC cho vào bình định mức pha với nước cất thành 100 mL. Nghiên cứu khả năng hấp thụ toluene và benzen của chất hoạt động bề mặt Isoamyl Alcohol. Dùng pipet hút 3 g dung dịch isoamyl alcol cho vào bình định mức pha với nước thành 100 ml.

Dùng pipet hút 3 g dung dịch tẩy rửa vào bình định mức và pha với nước cất thành 100 ml. Nghiên cứu khả năng hấp thụ toluene và benzen của CMC ở các nồng độ và thời gian khác nhau. Dùng pipet lấy 1 g dung dịch CMC cho vào bình định mức rồi pha với nước cất thành 100 ml thu được dung dịch CMC có nồng độ 1%.

Dùng pipet lấy 4 g dung dịch CMC cho vào bình định mức rồi pha với nước cất thành 100 ml thu được dung dịch CMC có nồng độ 4%.

Nghiên cứu Ảnh hưởng của Thời gian đến khả năng hấp thụ của CMC

Nghiên cứu Ảnh hưởng của nồng độ CMC

Kết quả và thảo luận

  • Kết quả nghiên cứu khả năng hấp thụ của Laurylsunfat
    • Kết quả nghiên cứu khả năng hấp thụ Benzen của Laurylsunfat ở nồng độ 3%
    • Kết quả nghiên cứu khả năng hấp thụ Toluen của Laurylsunfat Kết quả thể hiện trong bảng sau
  • Kết quả nghiên cứu khả năng hấp thụ của CMC
    • Kết quả nghiên cứu khả năng hấp thụ Benzen của CMC Kết quả thể hiện trong bảng sau
    • Kết quả nghiên cứu khả năng hấp thụ Toluen của CMC Kết quả thể hiện trong bảng sau
  • Kết quả nghiên cứu khả năng hấp thụ của Isoamyl alcohol
    • Kết quả nghiên cứu khả năng hấp thụ Benzen của Isoamyl alcohol
    • Kết quả nghiên cứu khả năng hấp thụ Toluen của Isoamyl alcohol
  • Kết quả nghiên cứu khả năng hấp thụ của nước giặt
    • Kết quả nghiên cứu khả năng hấp thụ Benzen của nước giặt Kết quả thể hiện trong bảng sau
    • Kết quả nghiên cứu khả năng hấp thụ Toluen của nước giặt Kết quả thể hiện trong bảng sau
  • Nghiên cứu ảnh hưởng thời gian hấp thụ Benzen của CMC a. Thời gian 40 phút

Như chúng ta thấy, khả năng hấp phụ của lauryl sunfat đối với hai dung môi trên không chênh lệch nhau nhiều, chênh lệch là 1,64%. Như chúng ta thấy, do đặc tính kết dính của CMC nên nó có khả năng hấp thụ. Nước giặt là dung dịch tẩy rửa chuyên dụng, là sự kết hợp của nhiều loại phụ gia hóa học.

Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ CMC đến khả năng hấp phụ benzen. Kết quả thực nghiệm khảo sát khả năng hấp thụ benzen của CMC ở các nồng độ khác nhau.

Bảng 3.2: Kết quả nghiên cứu khả năng hấp thụ Toluen của Laurylsunfat ở nồng  độ 3%
Bảng 3.2: Kết quả nghiên cứu khả năng hấp thụ Toluen của Laurylsunfat ở nồng độ 3%

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

Hình ảnh

Hình 1.2: Cấu trúc không gian của Carboxymethyl (CMC)  b, Tính chất của CMC
Hình 1.3: Vết bẩn bị rửa trôi bởi dung dịch nước giặt  1.3.  Dung môi [2]
Bảng 1.1: Nồng độ nhiễm độc của benzen
Hình 2.1: Mô hình thí nghiệm
+7

Tài liệu tham khảo

Tài liệu liên quan

+ Thuốc sản xuất vô trùng: dung dịch thuốc tiêm thể tích lớn; thuốc đông khô (hóc môn và các chất có hoạt tính hóc môn; chất độc tế bào/chất kìm tế bào); dạng bào chế

+ Thuốc sản xuất vô trùng: dung dịch thuốc tiêm thể tích lớn; thuốc đông khô (hóc môn và các chất có hoạt tính hóc môn; chất độc tế bào/chất kìm tế bào); dạng

+ Thuốc sản xuất vô trùng: dung dịch thuốc tiêm thể tích lớn; thuốc đông khô (hóc môn và các chất có hoạt tính hóc môn; chất độc tế bào/chất kìm tế bào); dạng

b) Nhận xét sự phân bố của các ngành công nghiệp luyện kim, chế tạo máy, hóa chất, thực phẩm.

Dây nano bạc sạch được phân tán trong dung dịch nước cất được sử dụng để nghiên cứu các tính chất và phân tán trong ethanol để chế tạo màng điện cực dẫn nhiệt

+ Thuốc sản xuất vô trùng: dung dịch thuốc tiêm thể tích lớn; thuốc đông khô (hóc môn và các chất có hoạt tính hóc môn; chất độc tế bào/chất kìm tế bào); dạng

+ Thuốc sản xuất vô trùng: dung dịch thuốc tiêm thể tích lớn; thuốc đông khô (hóc môn và các chất có hoạt tính hóc môn; chất độc tế bào/chất kìm tế bào); dạng

- Nghiên cứu và sản xuất các chất có tác dụng bảo vệ và phát triển thực vật, động vật như: sản xuất các loại phân bón hóa học, sản xuất thuốc bảo vệ thực vật; sản

+ Thuốc sản xuất vô trùng: dung dịch thuốc tiêm thể tích lớn; thuốc đông khô (hóc môn và các chất có hoạt tính hóc môn; chất độc tế bào/chất kìm tế bào); dạng bào chế