• Không có kết quả nào được tìm thấy

Phân tích hiệu quả sử dụng lao động của công ty

CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH

2.5. Phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh của công ty

2.5.2. Phân tích hiệu quả sử dụng lao động của công ty

Lao động là một trong những yếu tố không thể thiếu trong sự tồn tại và phát triển của bất kỳ doanh nghiệp nào. Sự đóng góp của họ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động cũng như năng suất cho công ty. Trong những năm qua, số lượng lao động của công ty luôn được duy trì ở mức vừa phải, phù hợp với quy mô sản xuất của công ty. Đồng thời công ty cũng luôn tạo điều kiện cho cán bộ, nhân viên của công ty có cơ hội học hỏi, nâng cao trình độ tay nghề.Như vậy, Công ty đã nhận thức đúng đắn tầm quan trọng của nguồn lực con người trong hoạt động SXKD để từ đó có những kế hoạch phát triển nguồn lực lao động hợp lý, phát huy tối đa hiệu quả sử dụng laođộng.

Để phân tích hiệu quả sử dụng lao động của công ty, chúng ta dùng hai chỉ tiêu quan trọng là năng suất lao động bình quân, mức sinh lợi của lao động, chỉ tiêu doanh thu/chi phí tiền lương và lợi nhuận/chi phí tiền lương.

Năng suất lao động bình quân là chỉ tiêu chất lượng thể hiện hiệu quả có ích của người lao động được đo bằng lượng sản phẩm được người lao động sản xuất ra trong một đơn vị thời gian nhất định hay lượng thời gian hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm. Qua bảng phân tích hiệu quả sử dụng lao động của công ty có thể thấy rằng năng suất lao động bình quân qua 3 năm có sự giảm sút và lượng giảm lớn nhất vào năm 2015. Cụ thể, năng suất lao động bình quân của công ty năm 2014 là 423,99 triệu đồng, sang năm 2015 giảm mạnh xuống còn 374,28 triệu đồng tức là giảm 49,71 triệu đồng với năm 2014. Điều này có nghĩa là doanh thu mà một lao động tạo ra trong quá trình SXKD trong năm 2015 thấp hơn trong năm 2014 là 49,71 triệu đồng.

sang năm 2016, năng suất lao động bình quân của công ty giảm nhẹ so với năm 2015 và xuống còn 371,23 triệu đông, hay đã giảm 3,05 triệu đồng với năm 2015.

Đại học kinh tế Huế

Mức sinh lợi của lao độngphụ thuộc vào sự biến động của lợi nhuận sau thuế, do lợi nhuận sau thuế của công ty giảm liên tục qua mỗi năm nên dẫn đến mức sinh lợi của lao động cũng giảm theo. Cụ thể, lợi nhuận sau thuế mà công đạt được cao nhất trong giai đoạn 2014-2016 là 7.015,65 triệu đồng và trong năm này mức sinh lợi của công ty đạt 17,54 triệu đồng. Điều này có nghĩa là trong năm này mỗi lao động đã tạo ra một khoảng lợi nhuận là 17,54 triệu đồng cho công ty trong kỳ hoạt động SXKD.

Sang năm 2015, mức sinh lợi của lao động là 9,68 triệu đồng, giảm 7,86 triệu đồng so với năm 2014. Sang năm 2016, chỉ tiêu này giảm nhẹ 0,61 triệu đồng so với năm 2015.

Chỉ tiêu doanh thu/chi phí tiền lươnglà chỉ tiêu cho biết khi công ty bỏ ra một đồng chi phí tiền lương thì sẽ thu lại được nao nhiêu đồng doanh thu. Năm 2014, chỉ tiêu này là 39,98 lần có nghĩa là khi công ty bỏ ra một đồng chi phí thì sẽ thu lại được 39,98 đồng doanh thu. Sang năm 2015, chỉ tiêu này giảm xuống còn 27,07 lần tức là giảm 12,29 lần so với năm 2014. Sang năm 2016, chỉ tiêu doanh thu/chi phí tiền lương của công ty lại tiếp tục giảm xuống còn 24,38 lần, điều này có nghĩa là trong năm này công ty bỏ ra một đồng chi phí thì sẽ thu lại được 24,38 đồng, tức là giảm 2,63 đồng so với năm 2015.

Chỉ tiêu lợi nhuận/chi phí tiền lươngcho biết khi công ty bỏ ra một đồng chi phí tiền lương thì sẽ thu về được bao nhiêu đồng lợi nhuận. Như vậy ở năm 2014 chỉ tiêu này của công ty là 1,65 lần, có nghĩa là công ty sẽ ty về được 1,65 đồng lợi nhuận sau thuế khi bỏ ra một đồng chi phí tiền lương vào quá trình SXKD. Sang năm 2015, chỉ tiêu này giảm mạnh xuống còn ở mức 0,70 lần tức là giảm 0,95 lần so với năm 2014.

Sang năm 2016, chỉ tiêu này tiếp tục giảm thêm 0,11 đồng so với năm 2015.

Đại học kinh tế Huế

Bảng 11: Hiệu quả sử dụng lao động của công ty qua 3 năm (2014-2016)

Chỉ tiêu ĐVT Năm 2014 Năm 2015 Năm 2016 So sánh

2015/2014 2016/2015

+/- % +/- %

1.Tổng doanh thu triệu đồng 169.599,65 150.461,15 149.234,73 -19.138,50 -11,28 -1.226,42 -0,81

2.Lợi nhuận triệu đồng 7.015,65 3.894,67 3.648,62 -3.121,01 -44,49 -819,58 -10,46

3.Chi phí tiền lương triệu đồng 4.242,13 5.556,65 6.120,13 1.314,52 30,98 563,48 10,14

4.Lao động bình quân lao động 400 402 402 2 0,50 0 0

5.Năng suất lao động bình quân (1/4) triệu đồng 423,99 374,28 371,23 -49,71 -11,72 -3,05 -0,82 6.Mức sinh lợi của lao động (2/4) triệu đồng 17,54 9,68 9,07 -7,86 -44,81 -0,61 -6,30

7.Doanh thu/chi phí tiền lương (1/3) lần 39,98 27,07 24,38 -12,91 - -2,69

-8.Lợi nhuận/chi phí tiền lương (2/3) lần 1,65 0,70 0,59 -0,95 - -0,11

-(Nguồn: Phòng Kế toán công ty Long Thọ và tính toán của tác giả).

Đại học kinh tế Huế

Như vậy, qua phân tích hiệu quả sử dụng lao động dựa vào các chỉ tiêu là năng suất lao động bình quân, mức sinh lợi của lao động, doanh thu/chi phí tiền lương và lợi nhuận/chi phí tiền lương thì có thể thấy rằng cả bốn chỉ tiêu này đều giảm qua các năm. Do trong năm 2015, công ty có ngừng hoạt động một số lò sản xuất xi măng nên dẫn đến doanh thu trong năm này giảm đáng kể trong khi chi phí tiền lương liên tục tăng qua các năm. Ngoài ra, do sự cạnh tranh gay gắt giữa các doanh nghiệp sản xuất và cung ứng xi măng, VLXD trên địa bàn tỉnh đã làm cho hoạt động kinh doanh của công ty gặp nhiều khó khăn dẫn dến sự giảm sút của các chỉ tiêu doanh thu, lợi nhuận.

Sự giảm dần của năng suất lao động bình quân và mức sinh lợi của lao động qua các năm cho thấy việc quản lý và sử dụng nguồn lao động của công ty trong giai đoạn này chưa thật sự tốt và hiệu quả giảm dần. Nếu tình hình này tiếp tục kéo dài trong thời gian tới thì sẽ ảnh hưởng xấu đến kết quả SXKD của công ty. Do đó, trong những năm tới công ty cần quản lý và sử dụng nguồn vốn lao động tốt hơn nữa nhằm khai thác tối đa năng suất lao động và sử dụng lao động có hiệu quả nhằm nâng cao NSLĐ của công ty.

2.5.3. Phân tích một số hiệu quả kinh doanh khác

Để đánh giá hiệu quả kinh doanh của công ty ta có thể sử dụng một số chỉ tiêu cơ như tỷ suất lợi nhuận/doanh thu, tỷ suất lợi nhuận/chi phí.

Tỷ suất lợi nhuận/doanh thulà chỉ tiêu cho biết trong một đồng doanh thu thu được của công ty thì sẽ được bao nhiêu đồng lợi nhuận. Như vậy, chỉ tiêu này vao năm 2014 là 0,041 lần, điều này có nghĩa là trong một đồng doanh thu mà công ty tạo ra thì công ty sẽ có được 0,041 đồng lợi nhuận. Sang năm 2015, chỉ tiêu này giảm xuống còn 0,025 lần, như vậy có nghĩa là giảm 0,016 lần so với năm 2014. Sang năm 2016, chỉ tiêu lợi nhuận/doanh thu của công ty tiếp tục giảm nhẹ 0,01 lần so với năm 2015, như vậy trong năm này khi công ty tạo ra được một đồng doanh thu thì sẽ có 0,015 đồng lợi nhuận.

Đại học kinh tế Huế

Bảng 12: Hiệu quả kinh doanh của công ty qua 3 năm (2014-2016)

Chỉ tiêu ĐVT Năm 2014 Năm 2015 Năm 2016

So sánh

2015/2014 2016/2015

+/- % +/- %

1.Tổng doanh thu triệu đồng 169.559,65 150.461,15 149.234,73 -19.138,50 -11,28 -1.226,42 -0,82 2.Tổng chi phí triệu đồng 160.458,47 147.922,28 145.685,85 -12.536,19 -7,81 -2.236,43 -1,51

3.Lợi nhuận triệu đồng 7.015,65 3.894,67 3.648,72 -3.120,98 -44,48 -245,95 -6,31

4.Tỷ suất lợi nhuận/doanh thu (3/1) lần 0,041 0,025 0,024 -0,016 - -0,001

-5.Tỷ suất lợi nhuận/chi phí (3/2) lần 0,043 0,026 0,025 -0,017 - -0,001

-(Nguồn: Phòng Kế toán công ty Long Thọ và tính toán của tác giả).

Đại học kinh tế Huế

Tỷ suất lợi nhuận/chi phílà chỉ tiêu phản ánh lợi nhuận mà công ty sẽ thu được khi bỏ ra một đồng chi phí. Chỉ tiêu này càng thấp cho thấy công ty có hiệu quả càng cao trong việc sử dụng chi phí để tạo ra lợi nhuận. Như vậy, chỉ tiêu này trong năm 2014 là 0,043, điều này có nghĩa là khi công ty bỏ ra một đồng chi phí thì sẽ thu được 0,043 đồng lợi nhuận sau thuế. Tuy nhiên, chỉ tiêu này lại giảm mạnh trong năm 2015 và chỉ còn 0,026 lần, tức là giảm 0,017 lần so với năm 2014. Và sang năm 2016, chỉ tiêu này tiếp tục giảm nhẹ 0,01 lần so với năm 2015.

Như vậy, qua phân tích các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh của công ty thì các chỉ tiêu này đều giảm qua 3 năm. Có thể nói răng trong giai đoạn này hoạt động kinh doanh của công ty không đạt hiệu quả khi các chỉ tiêu như doanh thu, lợi nhuận đều có tốc độ giảm nhanh hơn so với tốc độ giảm của chi phí. Do đó, đó công ty cần có các giarp pháp nhằm giảm chi phí và đẩy mạnh hoạt động tiêu thụ sản phẩm để có được lợi nhuận ngày càng cao qua đó góp phần vào sự phát triển cho công ty.

Tuy nhiên, mặc dù hiệu quả kinh doanh của công ty trong giai đoạn 2014-2016 không đạt hiệu quả cao nhưng không thể phủ nhận những đóng góp của công ty vào sự phát triển chung của tỉnh. Hàng năm, công ty luôn nộp một khoảng ngân sách cho tỉnh góp phần làm lớn mạnh thêm nguồn thu, đặc biệt công ty đã và đang tạo được một lượng lớn việc làm cho người lao động trong địa bàn tỉnh góp phần tạo thu nhập và nâng cao cuộc sống ổn định cho người lao động.

Đại học kinh tế Huế